Đăng bởi: mayxam | Tháng Năm 14, 2007

Tiểu Trương

TP – Tiểu Trương là một người thợ xây bình thường đến từ nông thôn. Nghe nói hiện nay Bắc Kinh có 850 nghìn thợ xây, thợ hồ từ tỉnh lẻ đến, điều đó có nghĩa là Bắc Kinh hiện có 850 nghìn “Tiểu Trương”.

Hôm đó, tôi và người yêu tôi nắm chặt trong tay chùm chìa khóa mới tinh nóng hổi trong tay. Đó là chùm chìa khóa mà công ty đầu tư và phát triển nhà đất mới bàn giao và tất nhiên nó được chúng tôi nắm chặt đến phát ấm, tôi có cảm giác nó nhẹ như một chiếc lông vũ hạnh phúc đồng thời lại nặng tựa như núi Thái Sơn.

5 năm đã trôi qua, cuối cùng thì chúng tôi đã có một căn nhà ở Bắc Kinh. Mặc dù món nợ mấy chục nghìn tệ vẫn như ngọn núi đè nặng trên đôi vai nhưng cuối cùng thì thành phố này đã không còn lạ lẫm đối với chúng tôi.

Tôi và người yêu dựa vào vai nhau đứng dưới lầu đợi Tiểu Trương, lòng tràn trề hạnh phúc, Tiểu Trương là cai thầu của một nhóm thợ xây do bạn tôi giới thiệu đến.

Tiểu Trương gầy guộc, yếu ớt đến mức mà tới khi cậu ta đến gần sát chúng tôi, chúng tôi mới chú ý đến sự tồn tại của cậu. Giống như một cây củi khô, mặt mày cậu ta vàng rớt, bủng beo, mái tóc lùng bùng dính đầy vôi vữa, mùn cưa, chiếc áo com lê sờn bạc mỏng manh được cậu ta quấn chặt vào người.

Phía dưới là chiếc quần bạc phếch dính đầy sơn lâu ngày, hai ống quần rộng thùng thình như trùm lấy hai thanh củi khô, mỗi khi gió thổi nó lại bay phần phật như hai cái túi vải mà người ta thường thấy trong cửa hàng xay bột vỡ đỗ.

“Thành thật xin lỗi, tôi đến hơi muộn” – Cậu ta cúi đầu tỏ ý biết lỗi, miệng cố nặn ra một nụ cười đồng thời mồm ho khù khụ.

“Cậu ta Tiểu Trương?”- Tôi hỏi với vẻ đầy kinh ngạc. “Cậu không thấy lạnh à?” – phản ứng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy cảnh cậu ta run rẩy, cố gắng túm lấy cái áo rách đã mất hết cúc để cho gió khỏi thổi tung.

“Không sao” – Tiểu Trương cười vẻ hiền lành. “Tôi đi bộ đến, đi bộ một lát sẽ ấm lên ngay”.

Chà, thảo nào, cậu ta đi bộ từ Mẫu Đơn Viên tới đây, gần chục cây số, gió lại ngược chiều, không đến muộn mới là lạ”.

Chỉ có điều, sao cậu ta lại đi bộ nhỉ? Đầy xe buýt, tàu điện ngầm sao không chịu đi? Tôi cũng hơi ngại hỏi. Tiểu Trương cúi đầu lặng lẽ đi theo sau chúng tôi lên phòng. Đứng trong cầu thang máy bóng loáng, cậu ta cố bịt chặt mồm để kìm cho những cơn ho khan không phát ra, vì cố gắng nhịn nên gương mặt vàng bủng kia trở nên đỏ gay.

“Cậu ốm à?” – Bạn trai tôi hỏi.

“Không, đâu có” – Tiểu Trương vội vàng lắc đầu quầy quậy, cố nén chặt cơn ho đang chuẩn bị bật lên. “Bụi quá, bệnh nghề nghiệp ấy mà, nghề của chúng tôi người nào chẳng vậy”.

Tôi cười. Chỉ có điều nghe thấy tiếng cậu ta cứ ho sù sụ bên tai, lòng tôi không khỏi lo lắng. Nhưng rồi tôi cũng không nói gì, nói nhiều sợ cậu ta lại phải suy nghĩ. Chúng tôi nhanh chóng bắt tay bàn mọi công việc có liên quan đến việc trang trí, sửa sang căn hộ.

Giá tiền công mà Tiểu Trương đưa ra rẻ đến bất ngờ, hoàn toàn nằm ngoài sự dự đoán của chúng tôi. Trước vẻ lo lắng, không thật sự an tâm của chúng tôi, cậu ta chỉ cười hiền và nói với giọng quả quyết: “Giao việc cho tôi, anh chị không phải lo đâu”.

Hôm sau, Tiểu Trương dẫn thêm ba cậu thanh niên nữa vận chuyển đồ nghề đến căn hộ của chúng tôi. Chỉ trong chốc lát, căn phòng trống trải biến thành công trường thi công ồn ào.

Ban ngày bọn họ ai cũng ướt sũng mồ hôi đi đi lại lại trong các đống xi măng, vôi vữa bụi đến mờ cả mắt hay đống mùn cưa bay tứ tung, ngoài ra còn cả những tiếng cưa khoan đinh tai nhức óc để làm việc. Ban đêm, họ nằm co ro trong tấm chăn bông vừa mỏng vừa cứng như sắt trên chiếc “giường” được ghép bằng mấy tấm bìa cứng để ngủ.

Bình thường thì nhà mới xây thô không thể ở được, không lò sưởi, không ga, không có các thiết bị vệ sinh, nhà chủ nào ghê gớm còn có thể cắt nước, cắt điện. Thế nhưng bọn họ lại như những con gián trong thành phố có một sức sống mãnh liệt, thích ứng với mọi cảnh u ám, nghèo nàn.

Có hôm tôi hỏi bọn họ đêm có lạnh không? Họ cười rất vô tư và nói rằng đối với họ như thế là hạnh phúc lắm rồi. Người khổ nhất là những thợ xây chuyên đổ mái cho các công trình, đêm ngủ trong những căn nhà chưa có mái, gió rét căm căm.

Mỗi lần tuyết rơi thì cả gáy và cổ đều dính đầy tuyết. Họ còn nói mặc dù là con nhà nông thôn nhưng ở nhà cũng được cha mẹ yêu thương, nâng niu chiều chuộng, chỉ có điều sau khi vào thành phố làm thuê thì phải tự mình rèn luyện khả năng chịu đựng gian khổ, chai lì trong mọi hoàn cảnh.

Nhưng rồi Tiểu Trương không làm được điều đó. Bệnh ho của cậu không hề thuyên giảm, thính lực của cậu cũng ngày càng kém đi, có thể là do hàng ngày phải tiếp xúc quá nhiều với những tiếng cưa khoan inh đầu chói tai. Nhìn cảnh cậu ta vừa ho sù sụ vừa chui trong đống xi măng bụi mù lòng tôi không khỏi lo ngại.

Nhiều lần tôi khuyên Tiểu Trương nên nghỉ ngơi vài ngày, dành thời gian đi khám bệnh. Nhưng mỗi lần nghe tôi nói vậy cậu ta đều tỏ vẻ căng thẳng và gạt phăng đi: “Bệnh nghề nghiệp, chẳng sao đâu”, sau đó lại ra sức nhịn ho.

Tôi biết, do sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành xây dựng, việc ít người nhiều nên cậu ta sợ nếu báo ốm chủ nhà sẽ hủy hợp đồng. Và thế là tôi không khuyên cậu ta nữa mà chỉ thỉnh thoảng mua cho cậu ít thuốc chống ho, đưa vài cái khẩu trang hay một ít áo rét.

Trước sự quan tâm của tôi, Tiểu Trương tỏ ra rất hờ hững, không quan tâm, thậm chí ngay cả l
ời cảm ơn cậu ta cũng không hề nói. Chỉ có điều sau lưng tôi, cậu ta lại kể với bạn bè rằng chúng tôi là những chủ nhà tốt nhất mà họ gặp ở Bắc Kinh.

Tôi không thích từ “bà chủ”, bảo cậu ta gọi bằng “chị” nhưng cậu ta không chịu, lý do rất đơn giản, đối với cậu bà chủ vẫn là bà chủ.

Giống như rất nhiều những người thợ xây thợ hồ khác, Tiểu Trương lúc nào cũng áo quần luộm thuộm, trên người luôn bốc ra một mùi hôi khó chịu, mặt mày khắc khổ, hốc hác, giống như những quả táo héo queo héo quắt, trông rất đáng thương thậm chí rất nực cười. Điều này khiến cho người thành phố có quá nhiều lý do để khinh thường họ.

Thời gian thi công đã trôi qua, một số gia đình bắt đầu lục tục chuyển đến phòng mới để ở. Một vài ngày sau, những ông bà chủ “cao thượng” tuyên bố xanh rờn với các nhân viên quản lý: “Đuổi hết bọn thợ xây ra khỏi nhà”. Lý do của họ là, những người thợ nông thôn này thuộc tốp các phần tử nguy hiểm của xã hội.

Và thế là bọn họ khăn gói quả mướp ra đi. Giữa mùa đông lạnh lẽo ở phương Bắc, họ giống như đàn chim sẻ bị lạnh cóng, cố gắng tìm một mái ngói nào đó để tránh gió tránh mưa.

Nhân tình thế thái tựa hoang mạc, “uống nước không quên người đào giếng”, thật không biết ban đầu ai là người trang trí, hoàn thiện, biến những căn nhà mới xây thô của họ thành tổ ấm sạch sẽ, gọn gàng? Chúng tôi không để Tiểu Trương phải rời đi ngay mà an ủi bọn họ rằng đây là nhà của chúng tôi, các cậu cứ yên tâm mà ở.

Thế rồi, vào một đêm trời rét cắt da cắt thịt, chúng tôi đang ngủ say thì bỗng có tiếng chuông điện thoại reo vang. Tiểu Trương gọi đến và bảo với chúng tôi rằng họ bị các nhân viên quản lý tống cổ ra khỏi nhà, lúc này họ đang ở dưới cầu thang và không biết sẽ phải đi đâu.

Chúng tôi lập tức bắt xe đi thẳng đến đó. Xe chưa vào đến cầu thang nhưng từ xa tôi đã nhìn thấy bốn bóng người lênh khênh đó đang đứng co rúm ở dưới đất.

Chúng tôi tức điên người, người yêu tôi nổi trận lôi đình, vừa đập bàn của mấy nhân viên bảo vệ, giọng gằn lớn: “Bọn họ là anh em của tôi, các anh dám đối xử với chủ hộ thế à!”. Vừa nghe nói là họ hàng của chủ hộ, mấy nhân viên bảo vệ liền rối rít xin lỗi và hứa hẹn lần sau sẽ không làm như thế nữa.

Tiểu Trương vừa nghe cuộc cãi vã vừa ho khù khụ, tôi cũng cảm thấy rất áy náy vì chuyện này. Nhưng Tiểu Trương an ủi và nói với tôi rằng những chuyện thế này họ đã trải qua quá nhiều rồi. Được quay về phòng mới để ở là hạnh phúc lắm rồi, có nhiều lần còn phải ngủ ở ngoài vệ đường và nhiều lần còn bị mọi người cho là mấy gã lưu manh.

Cùng là con người, cùng sinh sống trên cùng một mảnh đất, tại sao có những số phận hoàn toàn khác nhau?

Tôi ngẫm lại thấy câu Tiểu Trương nói rất đúng: “Giao việc cho tôi anh chị cứ yên tâm”.

Bạn bè tôi thường phàn nàn kêu ca, mất ăn mất ngủ thậm chí còn phải ra tòa kiện cáo vì chuyện thuê nhân công. Nhưng giữa chúng tôi và Tiểu Trương lại chưa từng xảy ra chuyện đó. Cậu ta không bớt xén, không ăn trộm, không lười nhác, không cố tình kéo dài thời gian.

Nhiều lúc nhìn bọn họ vất vả mệt mỏi, tôi khuyên bọn họ nên nghỉ ngơi vài ngày để lấy lại sức. Nhưng Tiểu Trương lại bảo, người làm thuê làm gì biết đến chữ “nghỉ ngơi”.

Thế rồi một hôm bọn họ nghỉ ngơi thật.

Một buổi chiều trời chập choạng tối, tôi đến thăm nhà mới để xem tiến độ thi công, ngoài sự dự đoán của tôi, tốp thợ của Tiểu Trương không miệt mài làm việc như mọi bận mà ngồi túm tụm quanh đĩa lạc rang và mấy chai rượu trắng, trông bọn họ đều trong tình trạng ngà ngà say. Nhìn thấy tôi đến họ không đứng dậy mà nhìn tôi với vẻ mặt lạnh băng, ánh mắt đờ đẫn.

Tiểu Trương không uống rượu, cậu ta ngồi trầm ngâm một mình trên ban công. Khi tôi hỏi đã xảy ra chuyện gì, cậu ta chỉ buông một câu: “Trong lòng không được vui”.

“Vì sao?”

“Vừa có người chết”.

“Cái gì? Người chết?” – Tôi kêu lớn.

“Vâng. Chết buổi trưa nay, ngay tòa nhà đằng trước. Một ông đồng hương nhảy từ giàn giáo xuống tự tử vì không lấy được lương, bản thân không còn mặt mũi nào về nhà ăn tết”.

“Tại sao không nhờ báo chí? Nhà báo đâu, phóng viên đâu? Truyền hình rồi cả mạng sao chẳng thấy đưa tin?” – Tôi kêu bằng giọng đầy bất bình.

Gương mặt cậu ta bình tĩnh đến phát sợ: “Bà chủ, chết một người thợ xây thì có gì to tát? Trước kia tôi làm ở các công trình, thường xuyên xảy ra chuyện đánh người trọng thương thậm chí còn đánh chết, có ai quan tâm đâu?”.

Tôi chẳng thể nói gì.

Tôi cứ tưởng rằng Tiểu Trương đã bị thành phố băng giá này tôi luyện thành một con người có trái tim sắt đá. Nhưng thật không ngờ, cho tới một ngày, tôi đã khám phá ra một trái tim nhân hậu ẩn trong vẻ bề ngoài chai sạn kia.

Buổi chiều hôm đó, tôi và Tiểu Trương đến siêu thị nội thất để xem ít vật liệu và đồ dùng trang trí. Trên đường quay về, khi ngang qua cửa hàng Mc Donald đèn nhạc náo nhiệt, cậu ta đột ngột dừng chân lại.

Cậu ta nhìn chăm chú vào cửa kính cửa hàng rồi rụt rè hỏi tôi: “Bà chủ, Mc Donald là cái gì vậy?”.

“Ba thứ vớ vẩn ấy mà”.

“Vậy hả? Những gì vậy?”- cậu ta hỏi với đầy hứng thú.

“Khoai tây rán, Hămbơgơ – tức là bánh mì nóng kẹp thịt gà, thịt bò hoặc cá rán ấy; ngoài ra còn có cánh gà rán, các loại đồ uống, kem…”. Rồi tôi tổng kết: “Không ngon bằng khoai nướng và ngô nướng ở quê các cậu đâu”.

Và Tiểu Trương đã được vỡ lẽ thế nào là Mc Donald, cậu cười hiền lành. Lúc này tôi mới phát hiện, khi cười trông cậu ta khá đẹp trai.

“Sao cơ? Cậu có thích
ăn không?”.

“À không, không” – cậu ta vội xua tay. “Tôi chỉ muốn hỏi thế, Tiểu Mai bảo tôi viết thư kể cho cô ấy nghe”.

“Tiểu Mai?”.

Tiểu Trương nở một nụ cười bẽn lẽn, nghĩ một lát rồi cậu ta lôi từ trong chiếc áo sơ mi bên trong ra một tấm ảnh. Đó là một tấm ảnh nghệ thuật, trong ảnh là một cô bé tóc dài đội mũ công chúa, tay cầm vành mũ cười duyên dáng.

“Xinh thế, “hoa hậu làng” của các cậu đúng không?” – Tôi khen rất thật lòng.

“Ấy, sao bà chủ lại biết?” – Tiểu Trương nhìn tôi với ánh mắt kinh ngạc. Rồi cậu ta nở một nụ cười ngượng nghịu, “hiện giờ cô ấy đã là vợ chưa cưới của tôi”.

“Vậy hả, đợi khi nào cô ấy đến Bắc Kinh, chị sẽ mời hai người đi ăn Mc Donald” – tôi hứa hẹn.

Các công việc Tiểu Trương làm đều rất hiệu quả. Chỉ trong vòng một tháng, căn nhà xây thô nham nhở của chúng tôi đã được tốp thợ của Tiểu Trương trang điểm thành một nàng công chúa xinh đẹp.

Tôi không bao giờ quên được khoảnh khắc khi vừa mở cửa, tất cả các bóng đèn đều được bật sáng, lớp bả ma tít trộn ba màu tím nhạt, hồng nhạt và vàng nhạt trên tường nhẵn bóng; nền nhà trải thảm hoa nhã nhặn đầy vẻ ấm cúng; ban công treo tấm mành trúc đầy vẻ lãng mạn; cửa sổ bay lất phất những bông hoa nhỏ li ti…

Tôi mừng rên cả lên, đá giày sang một bên, tôi chạy hết phòng này sang phòng khác. Vừa chạy vừa reo: “Tiểu Trương, cậu đúng là một nhà ảo thuật, biến được căn hộ đẹp quá!”.

Tiểu Trương cũng rất phấn khởi. Căn hộ nhỏ của chúng tôi từ cái đinh, con ốc đến miếng gỗ đều đã được cậu dồn hết mọi tâm huyết. Cậu ta đến góc nọ, ngó góc kia và đưa bàn tay thô kệch sứt sẹo xoa lên tường, xoa xuống nền, xoa cửa sổ. Cuối cùng, cậu ta vươn thẳng người và nói bằng giọng buồn buồn: “Đúng là rất đẹp. Tuy nhiên đẹp rồi thì cũng đến lúc bọn tôi phải đi”.

Sau khi nghiệm thu mọi thứ xong xuôi, Tiểu Trương bắt đầu thu dọn đồ nghề. Đi vào ban công, cậu ta nhìn thấy một đống gỗ miếng đang vứt ngổn ngang, đột nhiên cậu ta nói: “Chị Doanh, chỗ này còn ít gỗ vụn, bỏ đi thì tiếc, để em làm cho chị chiếc ghế con”.

Lòng tôi trào lên một cảm xúc khó tả, suýt nữa thì hai tiếng “chị Doanh” làm tôi cảm động đến trào nước mắt. Cuối cùng thì cậu ta không còn gọi tôi bằng hai tiếng xa lạ “bà chủ” đó nữa…

……….

Và chúng tôi đã để một tháng cho mùi sơn trong phòng bay hết rồi chuyển đến nhà mới. Sau khi mọi thứ đã dọn dẹp xong xuôi, cũng như mọi nhà chúng tôi đã thay toàn bộ khóa mới.

Tôi cũng thường xuyên nhắc đến Tiểu Trương, nhưng vì bận nên cũng không gọi điện thoại hay liên lạc gì.

Tết đến, tôi nhận được một tin nhắn của Tiểu Trương: “Người tốt vạn sự bình yên”. Tôi không nhắn lại. Tết đến tin nhắn nhiều vô kể, tin nhắn của Tiểu Trương cũng chẳng có gì thật sự nổi bật để tôi phải bận tâm.

Có lúc ngồi trên xe buýt, nhìn thấy những người thợ xây đầu bù tóc rối, tay xách cưa điện, đồ nghề là tôi lại nghĩ: Không biết giờ này Tiểu Trương thế nào rồi?

Thu đã qua đi, mùa đông lại đến. Chỉ có điều, mùa đông năm nay không phải mùa đông năm ngoái.

Một hôm, trong lúc thu dọn chạn bếp, đột nhiên tôi phát hiện trong góc có một gói gì đựng trong một túi ni lon. Mở ra xem, hóa ra là một chiếc ghế con! Mặt ghế màu trắng, chân màu tím, bốn mặt chạm khắc bốn bông hoa khiên ngưu màu tím viền trắng, tràn đầy sức sống…

Tôi hết sức ngạc nhiên, vội tìm số điện thoại của Tiểu Trương và bấm số.

Chuông điện thoại reo vang, rất lâu, và rồi, một giọng trầm khàn vang lên: “A lô, tìm ai?”.

“Xin hỏi Tiểu Trương có ở đó không ạ?”.

“Tiểu Trương nào?”. Tôi ngớ người ra, nghĩ một lát tôi mới biết mình không biết tên đầy đủ của Tiểu Trương. Và thế là tôi cố gắng miêu tả tướng mạo, tầm tuổi và một vài đặc điểm khác của cậu.

Cuối cùng thì đối phương cũng đã hiểu ra, ông ta hét lớn: “Biết rồi, khỏi kể nữa, chết rồi”.

“Chết rồi!”- Tôi không tin nổi tai mình, ngồi phịch ngay xuống đất.

“Chết rồi! Ung thư phổi. Đầu năm thấy ho ra máu, sau đó phát hiện ra ung thư phổi nên về nhà ngay, chẳng bao lâu thì chết…”.

“Làm sao có thể thế được?”.

“Làm sao không thể thế được? Cả đời sống chung với xi măng, làm sao lại không thế được”.

Máy điện thoại rời khỏi tay tôi và rơi xuống đất. Người tôi mềm ra, tôi quỵ xuống.

Tôi mân mê chiếc ghế con trong tay rất lâu và ngắm nhìn bốn đóa thiên ngưu hết sức bình dị nhưng tràn đầy sức sống. Trong ánh mắt nhòe mờ của tôi, Tiểu Trương vẫn đầu tóc rối bù, trên môi nở nụ cười tươi và đang tiến về phía tôi.

…………..

“Chị Doanh, giao việc cho tôi, anh chị cứ yên tâm”.

“Chị Doanh, Mc Donald có mùi vị thế nào?”.

“Chị Doanh, nếu tôi mở được công ty chuyên trang trí nội thất thì sẽ có thể cưới được Tiểu Mai”.

“Chị Doanh, trên hàng rào trước cửa nhà tôi mọc đầy loại hoa khiên ngưu tím viền trắng này…”.

Tiểu Trương, cậu gọi nhầm rồi. Trong thành phố, chỉ có “bà chủ”, không có “chị” đâu.

Và tôi, ngày ngày vẫn ngược xuôi quanh Bắc Kinh – thành phố phồn hoa đô hội ngày nào cũng có các tòa nhà cao tầng lộng lẫy. Mỗi ngày lại có vô số những tòa nhà cao tầng mới được mọc lên; mỗi ngày lại có vô số những con người “cao thượng” tấp nập chuyển vào nhà mới. Nhìn những gương mặt tràn ngập hạnh phúc của họ, tôi lại nhớ đến bóng dáng Tiểu Trương.

Trần Quỳnh Hương
Dịch từ NHẤT DOANH (Trung Quốc)



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: