Đăng bởi: mayxam | Tháng Chín 14, 2007

hành lang ngoài cửa kính (1)

Hồi còn chưa có nhân viên quét dọn hành lang, chúng tôi đều phải xử lý lấy rác thải. Đa phần các hộ đều phải đổ rác từ sáng sớm. Khi họ xuống cầu thang đi làm theo ca, đều tiện tay đem theo quẳng xuống thùng rác bên cạnh phố Ngọc Môn. Riêng tôi vì không đi làm ca, nên cứ phải để đến tận chiều tối đi bách bộ, mới đem đi đổ được. Rác nhà tôi vì phải nằm ăn vạ thêm một ngày trời so với các nhà khác, nên thường bốc lên mùi ủng nát, thối rữa xộc vào mũi rất khó chịu. Khi tôi xách đi, nhiều bận cứ phải nín thở. Nếu không may túi rác có lỗ thủng, thì những thứ nước trong rau thiu, hoa quả thối cứ rí rách chảy ra, chẳng những làm bẩn cả từng bậc cầu thang, có khi sơ ý còn nhỏ cả lên giầy mình nữa. Đi bách bộ với đôi giày gớm ghiếc thế, thường không dám táo gan đi trên thảm cỏ chung quanh vườn hoa, sợ làm nhơ nhớp mùi thơm mát của cả khối thảm cỏ xanh biếc, khi xách túi rác theo, tôi thường phải đi giày sẫm, để nếu nước bẩn có bắn lên cũng không ai biết đấy là đâu, có thể đi lại trong hoàng hôn chút đỉnh. Cũng như mây đen ban ngày ai cũng thấy rõ mồn một, nhưng mây đen vào ban đêm, có ai để ý làm gì. Cũng như những phụ nữ chủ các gia đình khác, tôi rất ghét rác rưởi, cứ cảm thấy chúng như những con chó ghẻ chẳng hiểu ở đâu chạy tới, cứ nép sát vào cửa nhà mình, muốn bắt nó không được, muốn đuổi nó, chỉ quát mắng bằng miệng không ăn thua, chỉ còn cách đích thân cố sức tống tiễn nó đi mới được.

Sự xuất hiện của người lao công quét dọn hành lang đã giải tỏa được những phiền toái và lúng túng của tôi trong việc xử lý rác. Bởi vì nhân viên quét dọn hành lang ngày nào cũng như ngày nào, đều rất đúng giờ, chỉ cần trước khi đi ngủ bạn thu gom rác để ra trước cửa nhà bạn là được. Chiều tối hôm sau khi bạn ra khỏi nhà để đi bách bộ, thấy số rác thải để trước cửa nhà đã được lặng lẽ dọn đi, hành lang sạch bong, bạn không khỏi cảm thấy toàn thân nhẹ nhõm. Nếu nói rằng hành lang trước kia khá bẩn thỉu, đến nước chỉ đáng để cho ăn mày nó đi, thì ngày nay nó lại sạch sẽ đến mức tựa hồ có thể để các ngài quý tộc châu Âu đi lại được. Khi xuống cầu thang, nhìn thấy áng mây chiều màu sắc rực rỡ, trong lòng bồi hồi xúc động, bạn hoàn toàn có thể đi đôi giày da mềm đế phẳng nhạt màu mà thưởng thức hương vị của những thảm cỏ hoa.

Từ ngày có nhân viên quét dọn cầu thang, chiều nào tôi cũng nghe tiếng quét rác ngoài hành lang vọng tới. Âm thanh ấy thường bắt đầu từ tầng tám là tầng cao nhất, tiếng loẹt xoẹt của hót rác tôn gom rác, còn có những tiếng sột soạt khi dồn rác vào các túi. Một lần, khi những âm thanh ấy xuất hiện trước cửa nhà tôi, vì tò mò, đang ngồi trong thư phòng, tôi nhỏm dậy bước tới trước cửa, dòm chị nhân viên qua ô cửa kính.

Chị mặc chiếc áo dài màu xanh, đeo khẩu trang trắng, đầu chít tấm khăn màu vàng đất, đang khom lưng nhặt cái gì đó trong túi rác nhà tôi. Vì kính cửa bám đầy bụi đất nên người được dòm thấy qua tấm kính cửa như bị thu nhỏ lại rất nhiều, mặt chị ta lại bị cái khẩu trang che mất một nửa, cho nên khi chị đứng thẳng lên trong giây lát, tôi đã không nom rõ mặt chị. Chỉ nhờ vào cách ăn mặc cùng những lọn tóc lòi ra ở trước trán của chị, cũng thấy được, chị là một phụ nữ đã luống tuổi. Tôi nghĩ ngay tới bên trong túi rác nhà tôi có một hộp bánh quy chưa bóc, nhưng đã quá thời hạn sử dụng. Chắc chị ta đã lấy nó ra khỏi túi đựng rác đó rồi.

Tôi có một thói xấu là nhiều khi đi siêu thị mua đồ, thường bất kể lớn bé xấu đẹp, nào là bánh qui, đồ hộp, mì sợi, mứt quả, ruốc thịt, hạt dưa… đều ấn phứa vào làn, mà khi lấy hàng từ trong giá xuống, cũng chả bao giờ để ý xem thời hạn sử dụng còn lâu hay chóng. Nhiều khi mua hàng về, tiếp đó lại đi công tác xa, về đến nhà lại quên phéng mất những món thực phẩm đã mua. Đến khi nhớ ra được thì đã quá mất thời hạn sử dụng tốt nhất và đã trở thành phế phẩm. Thực ra trong siêu thị, người ta thường bày bán những đồ thực phẩm mà thời hạn sử dụng của nó đã cheo leo bên bờ vực thẳm. Chẳng hạn như một hộp sữa tươi, thời hạn sử dụng là tám tháng, nhưng khi bạn mua được đem về xem thì lại chỉ còn nửa tháng nữa là vừa hết hạn. Ở siêu thị, người ta bán những loại thực phẩm này cũng ví như những vận động viên bóng bàn đập thành công một quả dọc biên, hẩm hiu nhất chỉ có thể là người tiêu dùng mà thôi. Gặp trường hợp đó, bạn phải ăn ngấu ăn nghiến cho hết của nợ đó đi, nếu không chỉ có thể xử lý chúng theo dạng rác thải.

Tôi đoán rằng chị lao công quét dọn hành lang đó sau khi phát hiện ra hộp bánh này, chắc chắn sẽ cho rằng tôi, người đàn bà chủ nhân của căn hộ này là một kẻ ăn tàn phá hại.

Sức chị kém lắm. Đứng sau cánh cửa mà tôi vẫn nghe tiếng thở nặng nề của chị. Dưới chân chị có hai cái bao xác rắn rõ to, một cái bẩn thỉu đen sì, còn một cái thì trắng trẻo sạch sẽ. Chị thắt chặt miệng cái túi rác nhà tôi lại, rồi bỏ vào trong bao xác rắn bẩn, sau đó bỏ cái hộp hình chữ nhật như viên gạch màu vàng vào cái bao kia một cách hết sức nhẹ nhàng cẩn thận, tôi đoán đó chính là cái hộp bánh quy đã hết hạn sử dụng. Sau khi làm xong, một tay chị cầm cái hót rác, trên hót rác có cái chổi nằm ngang, tay kia xách hai cái bao xác rắn, như thể dắt theo hai con chó, một con chó trắng một con chó đen, vất vả rời nhà tôi, tiến đến căn hộ khác. Bên ngoài cửa kính, chị và những cái bao rác đều khuất dần, cái tôi có thể nhìn thấy được chỉ là ô cửa vuông phía trên nơi đặt rác. Những cái chấn song cửa sổ gỗ màu trắng ngà, chia bầu trời bên ngoài thành những ô đều nhau, có ô mây giăng dày đặc, có ô mây trắng mỏng tang, ngược lại có ô chẳng có một sợi mây nào. Cái ô cửa sổ không mây đó đã khiến cho con người nảy sinh một ham muốn dán một cái gì lên trên đó. Nên dán con gà trống cắt giấy rõ to, hay nên dán một cành mai vẽ sặc sỡ?

Thời gian sau đó, cứ sau buổi trưa là trong dãy hành lang lại vang lên tiếng quét rác, không khi nào chệch giờ. Tôi thường vẫn nhón chân nhón tay đi tới bên cửa, nhìn chị lao động qua lớp kính cửa. Bất kể thời tiết vào mùa nào, chị vẫn kéo theo hai cái bao xác rắn to một bẩn một sạch đi theo chị mãi. Bên cái bao tải sạch là cái bảng điện hỏng, nhữ
ng gạo mọt, những giẻ lau cũ nát, những dép lê long đế, cùng những chai lọ, vỏ hộp bẩn thỉu: hộp sữa hỏng, hộp mật ong, chai đựng dầu, chai đựng giấm… Còn cái bao bẩn kia thì đựng đủ các thứ rác rưởi, nó thường luôn bị căng phồng. Cứ cách nửa tháng, tôi lại bỏ những sách báo tạp chí cũ ra ngoài cửa chờ chị ấy đến thu dọn. Thường thì chị không bao giờ quăng chúng vào bao xác rắn, mà bao giờ cũng vuốt phẳng phiu, sắp xếp thật cẩn thận, rồi lấy dây chằng chéo chữ thập lại thật chắc chắn và xách ở tay. Tôi biết những sách báo ấy, chị có thể mang bán cho hàng phế liệu. Tôi rất thích nép sau cánh cửa để nghe những âm thanh khi chị vuốt ve, xử lý báo chí, nó cứ sột soạt, xào xạc như tiếng gió thổi qua tán lá cây. Những loại rác ấy, chị đối xử rất nhẹ nhàng cẩn thận, có khi những nếp gấp trong tờ tạp chí, chị giở hẳn ra, nhẹ nhàng miết lại cho thật phẳng phiu, động tác này làm tôi liên tưởng tới một người bà nội hiền từ, nhẹ nhàng lấy tay lau sạch những vết bụi bẩn trên mặt của một đứa cháu yêu, đem lại cho người ta một cảm giác vô cùng ấm áp. Đã nhiều lần tôi muốn mở toang cánh cửa, chuyện trò với chị mấy câu, hỏi xem nhà chị có những ai, tại sao đã đến tuổi dưỡng già như vậy mà chị không được nghỉ ngơi, vẫn phải ra ngoài làm ăn vất vả thế. Song tôi đã không dám mở cửa ra một cách tuỳ tiện, một là sợ làm chị giật mình, hai là tôi cảm thấy cứ lặng lẽ quan sát chị qua tấm kính cửa thế này thú vị hơn nhiều. Tôi nhận thấy, khi xử lý rác rưởi, chị chăm chú toàn tâm toàn ý, như một nhà khảo cổ chăm chú với những hiện vật quý hiếm khai quật được từ trong lòng đất vậy.

Vào một buổi xế trưa trời đổ mưa phùn, phòng thu phát của cơ quan gọi điện bảo tôi tới nhận một bưu kiện thu phát nhanh cơ quan vừa ký nhận xong. Tôi cầm ô đi xuống đến tầng bốn thì gặp chị lao công nọ đang đi lên, trong tay cầm cái chổi và cái hót rác, tay kia xách hai cái bao không. Chị vẫn ăn vận hệt như mọi khi. Cái áo dài xanh, cái khăn trùm đầu vàng và miệng đeo khẩu trang trắng. Chị còng lưng, trông thấy tôi vội nép vào góc tường, né người, cố thu những thứ lỉnh kỉnh sát vào mình, sợ không may chúng chạm phải người tôi. Khi nhìn mặt chị, tôi phát hiện chị đang ngắm nhìn tôi rất kỹ, như một dược sư vào rừng hái thuốc đang chăm chú phát hiện xem một thứ lá cây nào đó có giá trị chữa bệnh được hay không. Vì trời sầm nên trong hành lang rất tối. Cái ánh mắt chị nhìn gây cho người ta cảm giác vô cùng mệt mỏi. Tiếng thở hổn hển của chị nặng nề khiến người ta nghi ngờ lá phổi của chị như lá cờ rách đã cũ lại nát, không tài nào có thể phất lên rồi kêu gọi đối với sự hô hấp của mạng sống của chị nữa.

Tôi cũng không chào hỏi chị. Gặp chị tại hành lang quả thật bất ngờ quá đối với tôi. Tôi thấp thỏm lo âu như cậu học trò gặp phải kỳ thi trong khi học hành còn đang chểnh mảng.

Khi tôi mang gói bưu phẩm từ phòng thu phát trở về, chị đã quét dọn xong tầng bốn. Khi quét dọn đến cầu thang, chị mở toang cửa sổ hành lang ra, như vậy mỗi bậc cầu thang đều vang vọng tiếng mưa rơi. Lúc này mưa rất nặng hạt, gấu quần tôi ướt sũng, cái ô tôi vừa thu lại cầm ở tay cứ rỉ rả nhỏ giọt xuống, làm cho các bậc cầu thang xi măng khô ráo chi chít những vệt nước mưa, nhìn vào cứ như thể một bầy ong ở đâu sà xuống. Cái tay cầm chổi của chị cứ thấy run lẩy bẩy. Nghe tiếng bước chân tôi, chị ngẩng đầu lên, đột ngột hỏi tôi.

– Có phải cô ở trên tầng bảy không?

Tiếng nói cũng run lập cập y như thân thể chị vậy.

– Vâng ạ! – Tôi đáp. Ánh mắt chị đột nhiên sáng lên, chị hỏi tiếp:

– Cô ở phòng số Một hay ở phòng số Hai?

– Phòng Hai – Tôi nói.

– Cảm ơn cô đã cho tôi số báo chí đó. – Chị nói, – người khác người ta không cho tôi như thế đâu. Thường họ dành để bán phế liệu.

– Thì bán cũng được bao nhiêu đâu chị? – Tôi nói, – với lại, những báo chí đó để trong nhà, nó chiếm mất của em nhiều chỗ quá.

– Nhà tôi cũng chẳng có gì đáng biếu cô cả. – Chị tháo cái dây đeo khẩu trang bên tai trái ra, như thể sân khấu đã mở màn, diễn viên ló khuôn mặt thật ra, “ào” một cái, dung mạo của chị đã lộ ra hoàn toàn trước mặt tôi. Sắc mặt chị trắng mà hơi vàng, chỗ mí mắt của chị nó dồn cục lại cả một đống những nếp nhăn hoặc to hoặc nhỏ, hai má chị thụt sâu xuống như hai cái hố, đôi mắt cũng trắng bệch như khuôn mặt, chả có chút huyết sắc tố nào cả, khiến người ta cảm thấy môi chị là một bông hoa đã khô héo. Cái khẩu trang buông thõng bên tai trái ngay cạnh khuôn mặt chị, trông như một lá cờ trắng nhỏ của kẻ đầu hàng, trong khi mặt chị ngập tràn biểu cảm của một đoàn quân thất trận.

– Ở nhà quê tôi có người bà con, hôm mới rồi mới mang lên cho tôi một làn trứng gà, hay để mai tôi mang lên biếu cô mấy quả nhé! – Chị nói trong hơi thở hổn hển.

– Em bị mỡ máu, bác sĩ bắt phải hạn chế ăn trứng. – Tôi cố bịa. – Với lại, thường ngày em cũng không thích ăn trứng gà mấy.

Chị vẫn kiên trì:

– Thì để tôi mang cho cô lấy mươi lăm quả không được sao? Trứng gà nhà nuôi, lòng đỏ cứ vàng rộm ra, thơm lắm, để cô nếm thử xem nó thế nào!

Tôi cảm thấy nếu cứ cố từ chối, sẽ làm tổn thương đến lòng tự trọng của chị. Nếu không để chị ấy được “đền ơn” thì lần sau, dẫu tôi có để chất đống sách báo tạp chí cũ cho chị ở cửa, có lẽ chị cũng chả thèm nhặt đâu.

– Thôi được, nếu vậy, chị đem cho em xin sáu quả nhé. – Tôi tiếp tục nói dối. – Em có cái tính hay mê tín, cứ thích số sáu cho suôn sẻ.

– Mười sáu quả cũng được, vẫn là số sáu mà! – Chị nói.

– Không! Chỉ sáu quả thôi. – Tôi vẫn bền bỉ: – Em ra chợ mua khoai tây, mua hồng, mua hành tây, cái gì cũng chỉ mua sáu, hơn một quả cũng không được.

Chị cười nói:

– Thế thì đem đến cho cô sáu quả vậy. Chiều mai cô có ở nhà không?

Tôi sợ lộ bí mật cái chuyện hàng ngày vẫn quan sát chị qua ô cửa kính, vội vàng nói với chị:

– Chiều mai em còn phải đi làm, chị cứ để trước cửa cho em là được.

– Thế lúc đi làm về cô phải nh
đưa nó vào trong nhà đấy nhá. – Chị gật đầu. – Kẻo để đấy, người ta đi qua hành lang lại tưởng đấy là rác, giẫm vỡ mất thì xong!

Xế trưa hôm sau, tuy không mưa, nhưng trời sầm sì, hành lang vẫn cứ thiếu ánh sáng như hôm qua. Khi tiếng thu dọn rác vang lên, tôi lại lặng lẽ bước đến bên cửa, để quan sát chị lao công qua ô cửa kính. Trong bụng chị bọc một cái bồn hoa bằng nhựa trắng, nhìn cái biết ngay nó đích thị là một thứ rác thải. Những loại bồn hoa này thường thấy trong các cửa hiệu bán hoa người ta dùng để đựng bùn đất, trong lớp bùn đất đó người ta cắm đủ các thứ hoa màu sắc sặc sỡ, đợi khi nào những cành hoa đó khô héo đi, thì cái bồn hoa nhựa cùng với lớp đất đã bị chọc ngoáy hàng trăm lỗ đó cũng bị quẳng đi không dùng nữa. Tôi thấy chị đã đặt hết sức cẩn thận cái bồn hoa đó xuống bên phải cái cửa. Đó là cái chỗ ngoặt để đi lên tầng tám, rất ít khi có ai đặt chân tới. Sau khi đặt xong, chị đứng thẳng lưng lên ngắm nghía nó một lúc, như thể một người đem đứa con thân yêu của mình đặt ở trước cửa một người khác nhờ người ta trông nom hộ, dáng vẻ hết sức không an lòng. Chị đứng cúi đầu ngắm nghía như thế một lúc nữa, rồi chị lại cúi xuống, đẩy dịch cái bồn hoa vào sát trong góc tường chút nữa, bấy giờ mới có vẻ yên lòng dời đi làm tiếp công việc của chị. Chị mở cái túi rác nhà tôi đặt ở cửa ra lật các thứ lên xem, sau khi xác định đích xác trong đó không có gì có thể tận dụng được nữa, chị mới thắt chặt miệng túi lại, bỏ nó vào trong cái bao xác rắn to. Khi cúi xuống và quay người, động tác của chị hết sức chậm chạp, tôi có cảm giác như người được xem cảnh quay chậm trên tivi. Tôi đoán chị ít nhất cũng đã ngoại sáu mươi, bước chân chị lên xuống cầu thang hết sức nặng nề, tiếng thở dài của chị khi thu gom rác hết sức nặng nhọc, đôi mắt của chị cũng khiến người ta có một cảm giác nặng trĩu, sao nó tối tăm nhợt nhạt thế! Cứ như một vũng nước đọng đã sắp tới phút khô kiệt.

Phải chờ mãi cho tới khi chị xử lý xong rác rưởi trên tất cả các tầng nhà, mang hai cái bao đựng rác to tướng ra khỏi toà nhà, bấy giờ tôi mới dám mở cửa ra, bê cái chậu hoa màu trắng đó vào trong nhà. Trong cái bồn hoa cũ đặt sáu viên giấy tròn, chắc chị sợ trứng vỡ nên cố ý trang bị cho chúng nhiều lớp áo giấy to đùng như vậy. Tôi cầm một quả lên, nhẹ nhàng bóc từng lớp từng lớp giấy bọc. Ít nhất cũng phải sáu bảy lớp giấy, chị bọc nó chắc nịch như một quả ten-nít. Khi lớp giấy cuối cùng đã bóc ra, trên tay tôi bừng lên một quả trứng gà to tướng màu hồng, vỏ trứng bóng nhoáng, có cả vết máu, đủ thấy khi đẻ quả trứng to thế này, con gà mẹ đã phải chịu đau đớn vất vả đến thế nào. Tôi lần lượt bóc hết từng lớp giấy bọc trên năm quả kia, mới thấy chúng đều rất to, và trên quả trứng nào cũng đều in vết máu không đậm thì nhạt, không quả nào không có, đủ biết khi chọn cho tôi sáu quả trứng này, chị đã phải tỉ mỉ, cẩn thận đến thế nào. Những vết máu còn hằn trên vỏ trứng rất giống với vạt sáng chiều thanh thoát, rực rỡ, xinh đẹp, đem đến cho con người một cảm giác bồi hồi xúc động.

Chiều tối hôm ấy, tôi đập hai quả ra để tráng. Quả nhiên, lòng đỏ của nó khác hẳn những quả trứng thông thường. Nó không nhợt nhạt, mà đỏ sẫm như bắp ngô già bóc vỏ. Hơn nữa lại rất thơm, thơm hơn trứng chợ nhiều. Vị lại hết sức đậm đà, thuần khiết. Bốn quả còn lại, tôi cẩn thận cất vào ngăn tủ lạnh, định bụng để lúc nào ăn uống cảm thấy không ngon miệng, sẽ đem làm món khai vị.

Lại một ngày mưa, sau giấc ngủ trưa, tôi trở dậy, đứng chỗ ban công trong phòng, nghe tiếng mưa rơi, trông ra ngoài phố, thấy chị lao công đang nghiêng người đi tới. Chị không mang ô, cố nép nghiêng người lại mà đi, chắc chị đã bị nước mưa ướt sũng. Trận mưa này đâu phải bất chợt, bắt đầu từ trưa đã tuôn rơi rả rích. Chị đi làm, đáng lẽ phải có chuẩn bị trước chứ? Chị không mang ô, hay là nhà chị không có? Tôi nhớ trong nhà tôi còn chiếc ô cũ màu đen, cái chóp đồng đã bị gẫy. Vì là chiếc ô kiểu cũ, không gập lại được, cán bằng gỗ lê màu vàng hình bán nguyệt. Ô đã mất chóp, non chẳng còn ra cái hình thù gì, cho nên bỏ xó đã lâu năm. Tôi vội chạy vào xó lôi cái ô đó ra, mở cửa, ném luôn nó vào chỗ để túi rác. Khi tôi đóng cửa, đã nghe tiếng bước chân chị đang lên cầu thang. Tôi không quay vào bàn, cứ đứng nép bên cửa kính thế để đợi chị xuất hiện.

Còn chưa trông thấy chị, tiếng bước chân đã vọng tới, tiếp theo là tiếng thở cuối cùng mới là hình dáng chị. Chị không dừng lại ở tầng bảy, mà lên thẳng trên tầng tám luôn. Quét dọn hành lang, chị luôn giữ quy trình từ trên xuống dưới. Phải đến năm phút sau, chị mới xuống đến tầng bảy, và phát hiện ra cái ô đen ở cửa phòng tôi. Chị nhắc cái ô lên, mở ra, quay tròn một vòng, sau khi đã cầm chắc nó không hề có chỗ nào rách thủng, chị cụp lại, lấy tay sờ lần vào cái chỗ chóp bị gẫy, lộ vẻ xót xa thương tiếc như khi sờ phải cái vết thương trên thân thể người thân yêu của mình. Sau đó, chị nhìn vào cánh cửa phòng tôi, trù trừ một lát, rồi đưa tay ra gõ nhẹ vài cái.

Tôi đứng nguyên như thế một lát, rồi mới mở cửa ra.

– Ô! Ra cô có nhà thật – Chị để cái ô nằm ngang, nâng lên nói. – Tôi thấy cái ô này cũng còn tốt, chả bị sao cả, vẫn dùng được, sao cô đem vất nó đi?

– Cái ô này hỏng rồi! – Tôi chỉ vào cái chỗ chóp ô. – Nó bị gẫy mất cái chóp đồng, em thấy nó xấu quá, kiểu dáng lại cũ kỹ, lạc hậu, rất khó cụp, không thể bỏ vào cặp mang theo người, bất tiện quá!

– Ôi! – Chị tiếc rẻ kêu lên. – Thực ra chả chỗ nào bị hỏng cả. Cô thật sự không cần đến nó nữa chứ?

– Chị cứ coi nó là rác thải quẳng nó đi giúp em là được! – Tôi quả quyết.

– Thế thì để tôi đem về dùng! – Chị ta bước lùi lại sau một bước. Do miệng đeo khẩu trang, như hụt hơi nên chị nói rất nhỏ yếu.

– Hay chị vào phòng em ngồi một lát, uống cốc nước đã. – Tôi nói.

Chị gỡ cái sợi dây đeo khẩu trang bên tai phải ra, cuống quýt kêu lên:

– Không được, không được! Người tôi bẩn thỉu thế này!

– Mỗi ngày chị phải quét bao nhiêu hành lang cả thảy? – Tôi hỏ
i chị.

Chị cố thở mấy hơi, nói:

– Tất cả có ba ngôi nhà, mười một dãy hành lang, tổng cộng hơn trăm căn hộ.

– Nhiều vậy cơ ư? – Tôi kinh ngạc kêu lên. – Thế một ngày chị phải làm bao nhiêu tiếng tất cả?

– Nếu làm nhanh chỉ hai tiếng, nhưng hôm nào chậm cũng phải ba tiếng mới hết. – Chị nói. – Cứ khi nào rác đầy bao tải là tôi lại phải cõng xuống dưới gác, xong mới lại quay lên. Cứ giở đi giở lại thế hóa đâm cũng tốn thì giờ.

– Chị vất vả thế, mỗi tháng được độ bao nhiêu? – Tôi lại hỏi.

– Cũng được khoảng hai trăm – Chị trả lời.

– Có vậy thôi sao? – Tôi kêu lên. – Phí vệ sinh mỗi tháng chúng em phải nộp bảy đồng, hơn trăm hộ, ít nhất cũng được tám chín trăm bạc, họ phải chi cho chị chí ít cũng phải được bốn trăm chứ? – Tôi hết sức bất bình thốt lên.

– Ôi! Đối với tôi, hơn hai trăm bạc là đủ rồi, đủ đong gạo ăn rồi. – Chị nói. – Chỉ vì hoàn cảnh của tôi quá khó khăn, văn phòng đường phố thấy vậy, ưu tiên lắm, mới phân cho tôi làm việc này đấy chứ. Người ta giữ lại nhiều nhiều một chút cũng phải thôi.

Tôi không hỏi kỹ thêm về hoàn cảnh của chị khó khăn như thế nào, vì chuông điện thoại đã reo. Tôi dặn chị, sau này tất cả những thứ em bỏ ở ngoài, chị cứ coi là rác thải đem dọn đi là được. Chị hơi đỏ mặt, cho rằng tôi trách chị đã gõ cửa.

Nghe điện thoại xong, tôi thấy chị đã xuống đến tầng sáu rồi. Cái tiếng “Cạat – Cạat” của cái hót rác tôn khi thu dọn rác vang lên, khiến lòng tôi hết sức giận dữ. Cái âm thanh ấy như thể lưỡi dao, mỗi tiếng vang lên như khía sâu vào lòng tôi, khiến tôi cứ thấy mình đau nhoi nhói.

Sau khi hết mùa mưa, kể từ tiết lập thu, gió đã có chiều se se lạnh. Bầu trời lúc này vô cùng trong sáng. Mây rất nhiều, và rất trắng, lững lờ bay tít trên cao, có chòm trong như con voi trắng, có chòm như con hải cẩu trắng, có chỗ lại như cả một bầy ngỗng trời trắng toát. Thường thì tôi ít khi bỏ lỡ những dịp thưởng thức mây trong thời tiết thế này, thế nào cũng phải đứng trên ban công nhìn ngắm một lúc. Như vậy, cuộc sống thường ngày của tôi lại có thêm một nội dung mới, ngoài việc dòm theo chị lao công, còn có cái thú trông mây trông đất trông trời nữa. Tôi phát hiện ra rằng, vào lúc hoàng hôn mây thường được nhuộm một màu da cam, khiến chúng trở nên vô cùng xinh đẹp, mà chị lao công thường hay xuất hiện ở hành lang đúng vào giờ phút đó, như vậy khi tôi quan sát chị qua tấm kính cửa, thì ánh vàng từ những đám mây qua khung cửa sổ hành lang chiếu vào, khiến mặt chị ánh lên những nét xinh đẹp, tựa hồ chị trẻ lại rất nhiều và cũng trở nên hết sức dịu hiền. Tôi dòm thấy chị luôn đi đôi giày đá bóng xanh cũ, đã thủng mấy lỗ, liền quẳng một đôi giày da đen mềm đế bằng đã hơi cũ ra chỗ túi để rác trước cửa. Để đôi giày đó có vẻ một thứ rác thải, khiến chị khỏi nghi ngờ, tôi đã lấy dao cắt đi một miếng nhỏ cái đế crếp ở phía mũi giày, sau đó vạch nhẹ mấy vết xước mũi dao trên mặt giày láng bóng, bẹo mấy cục đất trong bồn hoa di thật mạnh lên đó, khiến cho mặt giày toàn đất là đất, sau đó mới đem đặt ra ngoài cửa. Khi chị tới thu dọn, tôi thấy hai tay chị nâng niu đôi giày, lấy vạt áo dài phủi phủi lớp đất bụi bám trên mặt giày, lại tháo khẩu trang ra, hít một hơi rõ dài, thổi phù phù lên bề mặt chúng. Tựa hồ làn hơi thở của chị là ngọn gió xuân, có thể đem lại cho chúng muôn vàn sức sống. Chị lấy một tờ báo cũ ra gói đôi giày cẩn thận, bỏ nó vào trong một cái làn nhựa trắng. Chỉ có điều sau này chẳng khi nào tôi thấy chị xỏ chân vào đôi giày ấy, điều đó đã khiến tôi lờ mờ thất vọng. Không biết chị đã đem tặng nó cho ai hay không nỡ đi đôi giày ấy?

Tôi đoán chị chắc hẳn ăn không được đủ chất, nên thường bỏ những thứ tôi mới dùng hết nửa như sữa bột, bột hồ đào, bánh táo cùng những thức ăn như ruốc cá, ruốc thịt… ra ngoài đó cho chị. Khi bỏ những thực phẩm đó ra khu để rác, tôi cũng nghĩ ra nhiều mưu mẹo lắm để ngụy trang cho chúng, một mặt phải cố không để cho bụi bẩn dây vào, nhưng cũng không để chúng mới choang, sáng bóng. Thế là tôi làm như tiện tay lấy dây chun quấn đại vào túi thực phẩm cho bụi bặm khỏi rơi vào. Sau đó đổ tí nước khoai tây hay nước cháo ra bên ngoài túi, làm cho nó nhom nhem bẩn thỉu, trông rất giống với túi rác thải. Đồng thời, cái “túi rác” đặc biệt đó, nhất thiết phải được đặt lên trên cùng trong túi rác to, trong này chỉ cần liếc qua tôi cũng thấy. Nếu để nó bên dưới rồi mới để rau quả rác rưởi lên, rất dễ làm chúng bị lẫn lộn. Như vậy vẫn sợ chưa gây được sự chú ý của chị, tôi còn gắn thêm những dấu hiệu gì có thể đập ngay vào mắt chị như buộc thêm trên miệng một sợi dây đỏ hoặc dán mảnh giấy màu. Từ trong cửa kính, tôi nhìn thấy chị thường bỏ những thực phẩm ấy vào trong cái áo dài xanh chị vẫn thường mặc với vẻ mặt hết sức xót xa luyến tiếc, làm cho cái túi áo căng phồng lên, như khuôn mặt của một người bị sưng phồng lên vì chứng đau răng. Tôi nghĩ chị chắc chắn sẽ coi tôi là hạng đàn bà no đủ sung túc mà lại không biết cần kiệm vun vén cho gia đình, thuộc loại toang hoang cửa nhà, tôi chỉ có thể khiến chị hiểu về tôi như vậy.

Trời quang sáng lạnh, thời gian ban ngày ngắn đi, thời gian chị xuất hiện trên hành lang ngày càng muộn hơn. Mới đầu tôi cứ ngỡ dạo này chị đi làm muộn hơn mọi khi. Về sau có lần tôi bắt gặp chị lôi cái bao tải rác từ trên tầng tám xuống, chưa kịp thu dọn rác ở tầng bảy, chị đã mệt đến mức phải ngồi phịch xuống cái bậc đầu tiên của cầu thang lên tầng tám, chị đã phải ngồi nghỉ ở đó đến mười lăm hai mươi phút. Chị nghiêng người về phía cửa phòng tôi. Cái lan can cầu thang đã cắt hình bóng chị ra làm mấy đoạn, và tôi nghe rõ tiếng thở của chị vô cùng vất vả. Sức lực chị ngày càng suy yếu, y hệt một con cừu già đầy vẻ đáng thương hại. Nhìn bóng chị trong ánh sáng rực rỡ của buổi chiều tà, như hình bóng của một thân cây khô khẳng khiu. Với tấm khăn trùm đầu màu vàng đất lúc nào cũng dính chặt trên đầu, mắt tôi chẳng hiểu sao cứ cay sè ươn ướt. Tôi rất muốn thu dọn rác giúp chị, để chị cứ ngồi đó mà nghỉ, song tôi biết tôi không thể nào dám thế mãi, và bản thân chị cũng
sẽ chẳng đời nào cho phép tôi làm thế.

Từ sau tấm kính cửa, chị vô cùng nhỏ bé, như thể một con ếch được nhìn từ trên miệng giếng xuống. Khi chị quay mình ra bắt tay vào công việc, nom mới vất vả làm sao. Nó chậm rề rề, nằng nặc như chú ốc sên đang bò. Mặt sàn xi măng rõ ràng là bằng phẳng và láng bóng, thế mà khi chị kéo hai cái bao tải to một đen một trắng đi trên sàn, bạn cứ có cảm giác chị đang phải lăn lộn trong vũng bùn lầy.

Tự dưng tôi nhớ đến ông bác bán sách cũ trên đường Nam An.

Phố Nam An là nơi trước kia tôi đã sinh sống, ngay dưới ngôi nhà gác có cái chợ tạp hóa, có quầy bán chum vại cũ, có quầy bán đồ gia dụng và quần áo cũ, lại có cả quầy bán đồ điện gia dụng cũ nữa. Nơi tôi hay la cà nhất là quầy sách cũ. Chủ sạp là một bác già, trạc ngoại sáu mươi, ông đã bị tắc nghẽn mạch máu não, méo mồm, ông rất thích đội cái mũ dạ màu cà phê, chỉ trừ những hôm trời quá nóng. Tôi đã chọn được mấy cuốn sách quý từ trong cái sạp của ông, như “Thăng Am toàn tập” của Dương Thận, “Đông Bắc nông sự lục” văn bản cũ v.v… Tháng nào tôi cũng nhận được khoảng ba mươi loại tạp chí, trong đó phần lớn chỉ xem qua một lượt, thấy không còn giá trị nghiên cứu cần lưu lại nữa, nên đều coi là hàng phế thải. Sau khi quen với ông bác bán sách đó, tôi bèn đem tất cả cho ông, ông đem bán đi với giá bằng nửa hoặc bằng một phần ba giá bìa, như vậy mỗi tháng cũng kiếm thêm được mấy chục đồng bạc. Sau khi dời nhà đi nơi khác, tôi ở cách xa phố Nam An, nên dần dà cũng quên cả ông bác đó. Tôi nghĩ, nếu bây giờ mà để cho chị lao công kia đem số tạp chí này đến cho ông bác đó bán, tiền bán được cưa đôi mỗi người một nửa, chắc chị cũng sẵn sàng tiếp nhận hơn. Vậy là tôi liền đánh xe đi phố Nam An, chiều tối vừa đến quầy sách báo cũ của ông bác. Vừa thấy tôi, ông bác kêu giời lên mấy tiếng, bảo phải đến ba năm nay chẳng thấy tôi đâu, chả hiểu tôi đã dọn đi nơi nào mất rồi. Tôi tào lao với ông một lúc, rồi nói rõ ý định đến đây, định để một bà già cứ định kỳ mang tạp chí cũ đến cho ông, bán được bao nhiêu chia cho bà ấy một nửa, ông bác hết sức vui vẻ nhận lời ngay.

Sau khi thu xếp xong với ông bác già, tôi chọn ra hơn năm mươi cuốn tạp chí biếu đã kỳ công tích cóp được đem cho chị lao công. Tôi nói với chị, đây toàn những tạp chí mới xuất bản, đem bán giấy lộn thì phí lắm. Ở phố Nam An có một ông có quầy hàng sách báo cũ, chi bằng chị chịu khó đem những thứ này đến đấy cho ông ấy bán, được bao nhiêu hai người chia nhau. Nghe tôi nói vậy, mắt chị sáng lên, nói:

– Nhưng từ đây đến Nam An xa quá, tôi phải đi mất hai chặng xe buýt.

Tôi nói với chị, người ta mới mở thêm tuyến xe liên vận 32 đi qua phố Nam An đấy. Lên tuyến này bất kể chị đi một chặng hay toàn tuyến, giá vé đồng hạng chỉ có bảy hào thôi, Mỗi lần xách hai bó tạp chí đến đấy cũng không mệt mấy đâu mà. Tôi nghĩ bụng lên xe buýt người ta thấy chị già nua thế này, có khi còn nhường chỗ cho chị ngồi nữa là đằng khác, nên việc đưa tạp chí là hết sức nhẹ nhàng. Chị đã đồng ý. Tôi chờ cho chị quét dọn xong các hành lang ngôi nhà, rồi mỗi người xách một bó tạp chí, tôi đưa chị đến phố Nam An.

Trên xe liên vận rất chật chội, lên được xe nhưng không tìm được chỗ ngồi.

Tôi đã vận động hai người nhường chỗ cho chị, một cậu thanh niên ngoài hai mươi tuổi. Sau khi tôi nói xong, cậu ta đảo mắt một cái, rồi lim dim hai con mắt lại như người ngủ, cho dù tôi nói thế nào cũng không mở mắt ra nữa.

Tôi lại đi thương lượng với một cô gái, xem ra chỉ độ mười tám mười chín tuổi. Cô ta ốp một mái tóc vàng, đang đọc một cuốn truyện tình yêu rất thịnh hành. Nghe tôi nói xong, cô ngước lên, liếc nhìn tôi một cái, lại nhìn xéo sang chị lao công, nói:

– Nếu cô có lòng kính hiếu, hãy thuê riêng cho mẹ cô một cái xe. Chứ trên xe buýt ấy à? Không dành trước chỗ ngồi cho ai đâu!

Nghe cô nói thế, tôi nghẹn họng, không thốt được lời nào.

Chị lao công hốt tôi vì chị mà cãi nhau với người ta, nên vội nói cứ để chị đứng vậy cũng được, không mệt mỏi gì, hồi trẻ chị chen ô tô buýt mãi quen rồi. Tôi thấy chị còng cái lưng xuống, từ từ thở hắt ra, bất giác tôi phải nhắm nghiền con mắt lại. Tại mỗi điểm xe dừng, hành khách chen chúc qua bên cạnh chị để đi lên xuống xe, chị như người chết đuối bị nhấn chìm trong biển cả, cứ ra sức giãy giụa sang hai bên phải và trái, có lúc bị chìm ngập hẳn trong vòng vây của mấy tay cao lớn, khiến tôi cứ ngỡ chị xuống xe trước rồi.

Thấy hai chị em tôi đưa nhau đến, ông bác bán sách rất vui. Ông bảo các loại tạp chí ở đây đều bán được hết, nếu ăn khách còn có thể bán được với giá rất cao, còn các loại chuyên sâu vào học thuật thì kém được giá hơn, nhưng dù sao cũng vẫn hời hơn rất nhiều so với bán giấy lộn. Chị lao công đại thể đã ấn định được thời gian giao hàng với ông bán sách, đó là lúc chiều tà, lúc ấy chị đã cơ bản quét dọn xong hành lang, còn quán sách cũ của ông bác là vào lúc tưng bừng náo nhiệt nhất.

Bắt mối được cho hai người xong, tôi như trút được gánh nặng.

Hôm ấy về nhà, tôi ngồi viết thư cho mấy tòa soạn tạp chí có tính tổng hợp. Trước đây họ vẫn viết thư yêu cầu tôi gửi bài, song tôi chưa trả lời, là vì họ toàn là những loại tạp chí thời thượng có liên quan đến phụ nữ, nhi đồng, cổ phiếu, thời sự, vân vân… Tôi thường ít viết bài cho những tạp chí như vậy. Bây giờ tôi lại chủ động đặt vấn đề viết bài cộng tác với họ, với điều kiện là họ phải gửi tôi báo biếu cả năm. Tôi nghĩ bụng ở quầy sách báo cũ mà được những loại này phải quý bằng sâm Cao Ly…

Mùa đông đã lần mò tới, nó đem đến cả một chuỗi những ngày ngắn đêm dài.

Khi chị xuất hiện buổi chiều ở hành lang, thông thường đã vào lúc mặt trời sắp lặn. Quan sát chị qua kính cửa vào thời điểm như thế, thường là mờ lờ không rõ, nhiều hôm tôi phải bật đèn hành lang từ sớm. Có hai lần tôi bắt gặp chị như thể đã phát hiện ra điều gì, cứ đứng trước cửa phòng tôi sợ hãi nhìn lên ngọn đèn trên ô cửa bảo vệ phía trên, như thể đã nhìn thấy tài sản của tôi để lộ ra b
n ngoài, hết sức lo lắng cho tôi. Tôi vội sang cơ quan yêu cầu thợ điện sang đổi cho tôi cái bóng ấy, thay bằng cái bóng điều khiển bằng âm thanh. Như vậy, một khi ánh sáng của nó yếu đi mà có chị tới, thì hành lang tự nhiên sáng bừng lên. Tôi còn lau kính cửa cho thật sạch, như vậy khi nhìn chị sẽ thấy rõ hơn. Tôi để ý thấy vào cái lúc ánh đèn bừng sáng lên ấy bao giờ chị cũng run bắn lên, ánh sáng ấy chẳng khác nào đuôi con chồn hôi quệt phải người chị, khiến chị giật mình khiếp sợ.

Tôi đã thấy chị hoạt bát hơn trước rất nhiều, sở dĩ vậy là vì tôi thấy cử chỉ của chị khi làm việc đã nhanh nhẹn hơn. Mặt khác, hơi thở của chị cũng đã thấy nhẹ nhàng hơn trước. Nghe qua khe cửa, tôi thấy rõ tiếng thở đó thong dong thanh thoát như nước nhỏ tí tách. Mỗi khi đến thu dọn rác ở cửa phòng tôi, chị vẫn thận trọng tỉ mỉ như trước. Những “túi rác đặc biệt”, cho dù tôi nguỵ trang khéo léo đến đâu, chị cũng đều phát hiện ra ngay, và bỏ rất cẩn thận vào trong cái bao tải sạch. Chỉ duy nhất có một lần chị bỏ vào cái bao tải bẩn đựng rác thải. Tôi đoán chắc chị thấy màu bột đậu như vậy, lại tưởng tượng thứ bột gì đã mốc, nên mới đem bỏ nó đi.

Cứ cách nửa tháng, tôi lại giao cho chị hai bó tạp chí, chị lại đem đến cho ông bác bán sách ở phố Nam An. Một hôm, chị hết sức vui vẻ hào hứng nói với tôi, số tạp chí đem đi lần trước, đã bán được già nửa. Ông bác chia cho chị những hơn ba chục đồng. Chị hỏi tôi có thích một cái nơ xanh không? Chị thấy tôi luôn buông tóc xõa nên muốn tôi tết tóc lại cho gọn. Tôi bảo chỉ thích loại nơ màu vàng kim, chị hồ hởi nói, sẽ mua cho tôi một cái nơ màu vàng kim như vậy.

Hai hôm sau, khi tiếng bước chân của chị xuất hiện trước cửa phòng tôi, tôi thấy chị rút từ trong cái túi áo dài xanh của chị một mảnh xa tanh màu vàng kim. Chị rũ rũ nó mấy cái, rồi tiến tới sát cửa buồng tôi. Thân hình chị che lấp hoàn toàn cửa kính của tôi, khiến mắt tôi như tối sầm lại, không nhìn thấy chị đã gắn miếng xa tanh đó lên cửa phòng tôi bằng cách nào.

Khi hình bóng chị rời khỏi cửa phòng tôi, tôi thấy rõ một tấm nơ vàng tỏa sáng rực rỡ như ánh mặt trời, nó như một đóa mây bay tới khiến lòng dạ xốn xang. Chị vừa ra khỏi căn nhà gác, tôi không thể chờ đợi lâu hơn vội mở toang cánh cửa, thì ra miếng xa tanh đó đã được chị gắn lên cửa bằng băng dính. Tôi gỡ băng dính ra, nâng niu tấm vải mềm mại, bóng loáng mà rực rỡ đó trên tay, ngồi tết một cái đuôi sam, rồi lấy miếng xa tanh ấy tết một cái nơ. Cái nơ tôi tết hình con bướm, trông nó nhã nhặn xinh đẹp quá, y hệt một ngọn đèn hoa cúc, ngời sáng trên khuôn mặt tăm tối của tôi.

Hôm nào có tuyết rơi, chị đến sớm hơn ngày thường.

Chị vẫn mặc cái áo dài xanh đó, nhưng bên trong đã khoác thêm cái áo bông. Chị vẫn chít chiếc khăn trùm đầu vàng, nhưng không đeo khẩu trang nữa, tôi đoán chắc khả năng ngừa bụi của hai lá phổi của chị đã khá hơn dạo trước. Trạng thái của chị y hệt một cây cổ thụ già nua khô héo, vậy mà không hiểu đã được cơn mưa phùn gió nhẹ nào làm cho đột nhiên đâm chồi nẩy lộc, tràn trề sức sống.

Buổi xế trưa của một ngày tháng chạp nọ, tôi đang tiếp nhận một trang fax trong phòng, bỗng thấy từ ngoài hành lang vọng vào một tiếng huýt sáo du dương. Tiếp đó, tiếng quét rác rào rào vẳng tới. Tôi vội vã chạy tới bên khung cửa. Xuất hiện sau tấm kính cửa là một chàng trai khoảng ngoài hai mươi tuổi, rất béo, mặt sần sùi những mụn là mụn. Cậu ta vừa quét dọn hành lang, vừa huýt sáo miệng.

Tôi rất buồn. Vậy chị lao công bữa trước đâu? Chị ấy bị ốm, hay vì việc gì đó đã lỡ thời gian đi làm, phải để cho cậu trẻ tuổi này thay chị một hôm? Trong túi rác của tôi để ở cửa hôm nay, có nửa túi mộc nhĩ rừng. Khi cậu bé kia quét xong hành lang, thò tay vào túi rác, tôi hét to từ bên trong cánh cửa.

– Không được đụng vào túi rác của tôi.

Tôi mở toang cửa ra, nhìn vào mặt cậu khách không mời mà đến đó.

Cậu bé bĩu môi, chỉ tay vào túi rác với vẻ nghi ngờ:

– Đây chẳng phải là rác thải sao?

– Phải! – Tôi nói.

– Vậy thì tại sao không được dọn? – Cậu ta hỏi.

– Cậu là ai? – Tôi hỏi.

– Quét dọn hành lang chứ ai? – Cậu ta nói: – Tôi mới tới, nên chị mới thấy lạ.

– Thế còn chị ấy đâu? – Tôi không đợi được, vội hỏi.

– Bà già ấy à? Bây giờ người ta không dùng nữa, cho bà ấy về nhà rồi? – Nói xong câu ấy, cậu chàng khoan khoái huýt một điệu sáo.

– Tại sao vậy? – Tôi hơi giận dữ. – Vì bà ấy già rồi phải không?

– Há không phải vậy sao? – Chàng trai nói – Văn phòng đường phố vốn thương hoàn cảnh bà ta quá khó khăn nên đã phân cho bà ta làm cái công việc lẽ ra phải để cho những người trẻ tuổi làm, nhưng bà ta thì thế nào? Một bà già đã ngót bảy mươi rồi không chịu ngoan ngoãn ở nhà mà hầu hạ ông già của mình, lại đi quan hệ với lão già bán sách báo cũ ở đường phố Nam An. Văn phòng đường phố đã thải hồi bà ta về nhà rồi. Cái lão già bán sách đó chẳng phải giàu có lắm sao? Cứ để lão ấy nuôi bà ta cho xong.

Cậu bé đó nói xong, liền xách cái túi rác bị cậu ta bỏ xuống ban nãy lên. Lần này thì tôi thôi không ngăn cản cậu ta nữa. Tôi quay sang hỏi cậu:

– Thế cái bác quét hành lang trước đây ấy, cũng có chồng sao?

– Cho dù không có thì bà ta cũng không nên quan hệ như thế. Bà ta tuổi tác đã đến vậy rồi còn gì? Vả lại, nhà bà ta hãy còn người cơ mà. Cái ông già ấy bị bại liệt đã gần hai mươi năm nay rồi, chắc bà ta phải hầu hạ ông ấy ớn quá rồi hẳn?

Cậu chàng trút xong nỗi bực dọc trong lòng, rõ ràng là không muốn bỏ phí thời gian, bèn xách cái túi gom rác, đi xuống tầng sáu. Căn phòng số một cùng tầng với tôi thời gian qua đóng cửa để đấy không ai ở, nên cậu ta nhẹ nhàng lướt qua. Chàng trai trẻ thu gom rác rưởi rất hào hứng và vui vẻ. Cậu ta không vạ gì mà xách bao tải to, chỉ mang theo mỗi cái chổi và cái hót rác, bao nhiêu rác thu gom đuợc ở mỗi tầng, cậu ta cố nhét cho hết vào túi đựng rác của các hộ để sẵn đấy, rồi gộp lại với nhau, xách cả vào tay đem đi, động tác đó y hệt các bà
nấu bếp ở quán cơm tư nhân ra chợ mua thức ăn, mua được bao nhiêu đem dồn hết vào bảy tám cái túi, gộp cả vào tay xách về. Cũng phải thừa nhận rằng, hành lang như thế này, người lao công nhìn vào rất thoải mái, bởi vì cậu trẻ, có sức lực, nhìn cậu ta làm việc trong lòng thấy thỏa đáng, không hề cảm thấy áy náy. Nhưng tôi hoàn toàn không thể yên tâm về chị lao công kia, lẽ nào chị lại đi quan hệ với ông bác bán sách đó thật hay sao?

Để dò cho đến ngọn nguồn lạch sông, sau khi tích cóp được số tạp chí cũ với một lượng kha khá, tôi tự xách chúng đem đến phố Nam An. Đó là vào quá trưa một ngày đông cũ kỹ, bầu trời xám xịt. Gió bắc thổi ào ào, ngoài đường phố tựa hồ như bị đóng băng vì gió rét.

Chợ tạp hoá cũ ở đường Nam An về mùa đông trở nên lạnh lẽo, vắng vẻ. Trong chợ rất vắng khách. Tuyết trắng trên đường đã bị giẫm nát nhoét, bên trên còn có những đầu mẩu thuốc lá, những giấy vụn, vỏ hoa quả bóc ra cùng những bãi phân thải của những con vật to lớn nhà ai còn rơi rớt lại. Ông bác đội một chiếc mũ dạ màu cà phê đứng bên quầy sách, đang lồng nilon trắng vào một số cuốn sách. Trông thấy tôi ông vội vàng kêu lên rối rít: “Trời ơi!” và nói là đang định cùng với bà Lương đi đến chỗ tôi cho biết nhà, sau này có tạp chí thì ông đích thân đến thẳng chỗ tôi để lấy. Tôi chưa biết bà Lương là ai, ông bác cười bảo tôi:

– Thì chính là cái bà quét dọn hành lang ở khu nhà gác mà hôm trước chị dẫn xuống đây ấy. – Ông nói tiếp: – Bà ấy bảo bây giờ bà ấy ở nhà học may, nên thôi không đi quét rác hành lang nữa, bảo lần sau để tôi tự đến đó lấy sách báo cũ mang về. Thực ra, tôi cũng không nên để cho bà ấy đem đến nữa. Vì bà ấy không được khỏe, mỗi lần đem tạp chí tới đây, bà ấy cứ phải ngồi nghỉ hàng nửa tiếng đồng hồ mới lấy lại được hơi sức.

Rõ ràng là bà chị lao công đã không nói rõ với ông bác cái lý do thật sự là chị bị buộc thôi việc, chắc hẳn chị sợ làm tổn thương đến ông bác. Trước đấy tôi còn nghi ngờ giữa họ đã nảy sinh tình cảm với nhau, nhưng giờ thì rốt cuộc đã rõ cả rồi.

Ông bác nói với tôi, ông ta đã về nhà chị Lương cùng với chị ấy. Chị ấy kể cũng tội, vì từ nhỏ, nhà rất nghèo, cha mẹ mất sớm, phải sang ở với người cô làm con nuôi. Người cô có một đứa con trai làm thợ đốt lò ở xưởng lanh. Chính người cô của chị đã đứng ra thu xếp cho hai người lấy nhau. Cưới nhau xong, họ sinh được một trai một gái, nhưng cả hai đều đần độn. Người cô của chị lại không cho rằng sở dĩ sinh con ngớ ngẩn là tại bố mẹ chúng cùng huyết thống, mà cho chị là ngôi sao táng tinh bẩm sinh, nên suốt ngày mang chị ra hành hạ, không đánh đập cũng chửi mắng. Đứa con gái của chị cũng ngớ ngẩn, nhưng nhẹ hơn thằng con trai, trí nhớ tuy kém, nhưng cũng còn biết lo liệu được chút việc nhà, chị bèn đem gả cho một gia đình nông dân nghèo khổ ở khác huyện. Còn đứa con trai của chị năm nay đã bốn mấy tuổi rồi, ngoài việc đi chơi loăng quăng ngoài đường phố và há miệng ra ăn, thì ngay đến quần áo cũng không biết mặc cho gọn ghẽ. Mới đầu làm ở xưởng lanh, chồng chị cũng kiếm được đồng ra đồng vào, anh ta lại rất khỏe mạnh, sau không may lò nung bị nổ, anh cụt mất cả hai chân, nằm liệt giường suốt hai mươi năm qua, xí nghiệp làm ăn thua lỗ, mỗi tháng chỉ được lĩnh hơn hai trăm đồng bạc, chị phải nuôi hai người đàn ông, một tàn tật, một ngớ ngẩn, chị đã lo nghĩ đến kiệt quệ.

– Chả trách chị ấy đã già thế hãy còn phải đi làm công việc nặng nhọc này, thật chả dễ dàng chút nào! -Tôi cảm khái nói.

– Ôi! Cái ông anh họ của chị ta, tôi cũng đã gặp rồi, đúng là một xác chết biết nói, suốt ngày chỉ biết mỗi việc ăn, lời nói của ông ta không sao hiểu nổi! – Ông bác cảm thán nói. – Tôi đến thăm, ông ta chẳng hề có thiện cảm tẹo nào, lại còn cố tình ném cái cốc để ở cái tủ đầu giường xuống đất, vỡ tan ra. Tôi thấy thật ái ngại cho chị ấy quá, quả thật chị ấy sống trên cõi đời cực khổ quá.

– Thỉnh thoảng bác tìm chị ấy nói chuyện, chắc chị ấy sẽ khuây khỏa nhiều. – Tôi nói.

– Có lúc chị ấy cũng đến đây giúp tôi bán sách. Nhưng chị ấy bán buồn cười lắm. Quyển sách đáng ra chỉ giảm giá 30% thì được 30% giá chị ấy đã bán cho người ta rồi. – Nói xong, bác ta cười lên ha hả.

Tôi lại hẹn với ông bác, sau này hễ số tạp chí tôi tích cóp được tới mức nào đó tôi sẽ gọi điện thoại cho ông, để ông đến nhà tôi mà lấy. Ông bác trao số điện thoại cho tôi, còn tôi thì ghi các địa chỉ nơi ở của tôi cho ông ấy. Trong khi ông ấy nói chuyện với tôi, ông bận luôn chân luôn tay. Ông lồng túi nilon vào tất cả các cuốn sách bầy trên giá, ông bảo mùa đông gió to lắm, cát bụi nó bay vào vừa bẩn sách, vừa dễ làm cho sách báo biến dạng và ngả màu vàng ố.

Khi rời khỏi cái chợ tạp hóa cũ ở phố Nam An, lòng tôi đã dịu lại rất nhiều. Về sau tôi bỏ hẳn thói quen quan sát người lao công quét rác dọn hành lang qua tấm cửa kính, và túi đựng rác của tôi cũng hoàn toàn là túi rác. Chỉ những khi nghe tiếng huýt sáo du dương ngoài hành lang, tôi mới thấy hơi buồn bực như cái gì bị mất mát. Cái cậu thanh niên ấy đến thu dọn rác không vào một giờ nào nhất định cả, khi là buổi sáng, có khi xế trưa sang chiều, có lúc lại đi dọn rác vào buổi tối. Bất kể đi quét dọn lúc nào, cậu ta cũng luôn mồm huýt sáo, mà lần nào cậu ta cũng chỉ huýt sáo có mỗi một bài: “Hoa mai đỏ nở rộ”. Trong những ngày đông tháng giá, khúc nhạc ấy ánh lên sắc xanh trên đám tuyết tàn, khiến người ta có cảm giác được thưởng thức nguồn ánh xuân ấm áp.

Tết năm ấy, tôi ăn tết ở đảo Hải Nam. Đến mồng sáu tết, khi tôi bay từ Hải Khẩu trở về thành phố nơi tôi sinh sống. Vừa gặp lúc trời mưa tuyết. – Lúc xuống máy bay, nhìn thấy đường băng đang dần dần bị lớp tuyết trắng bao phủ, tôi bất giác reo lên, mình gặp vận may quá. Nếu tuyết rơi ngay từ khi tôi mới cất cánh, thì tôi đã không tài nào đáp được xuống sân bay. Sau khi thay cái áo lông khoác lên người chui vào xe taxi, nhìn thấy cánh đồng bao la hiu hắt ở vùng quê phương Bắc đang bị nhuộm trắng bởi từng đám từng đám tuyết, nhìn con đường tuyết thăm thẳm, bất giác tôi lại nhớ tới ông bác bán sách và chị Lương lao công, không biế
t Tết này hai người ăn Tết ra sao? Trong nhà có treo những chiếc đèn lồng đỏ thắm* không? Tôi định nghỉ ngơi một ngày, hôm sau sẽ tới phòng thu phát để nhận các bưu kiện trong suốt nửa tháng qua, để báo cho ông bác đến chỗ tôi nhận tạp chí.

Trong các hành lang liên tiếp vang lên những tiếng lạo xạo của quân bài mạt chược. Ngoài ra còn nghe thơm phức mùi thịt kho Tàu. Phần rất lớn người miền Bắc vẫn giữ theo nếp ăn Tết cổ truyền của cha ông: Ngày tết cứ nằm khan ở nhà, mặc sức chơi bời, đánh chén thoải mái. Cho nên vừa bước tới hành lang, cái hương vị quen thuộc của ngày Tết đã bay lên xộc thẳng vào khứu giác, thị giác, thính giác…

Khi tôi xách vali hành lý lên được đến tầng bảy đã thấy ngay trên cửa nhà tôi có dán chữ “Phúc” ngược nền đỏ, chữ vàng kim, chữ “Phúc”* này rất to, phải rộng bằng nửa cái cánh cửa. Diềm ngoài chữ “Phúc” còn có bức tranh rồng phượng và hoa mẫu đơn, xem ra tràn trề niềm vui đón Tết. Ai đã biết Tết năm nay tôi không ở nhà ăn tết, mà đem chữ “Phúc” đến dán cho cửa nhà tôi thế nhỉ?

Đến khi tôi bỏ vali xuống toan móc thìa khóa ra, thì bỗng lại phát hiện ở chỗ góc tường có một cái bồn hoa trắng bằng nhựa cứng, trong bồn có một ít giấy báo rách. Tôi cúi xuống bới hết số báo vụn đó ra, thì thấy dưới đáy bồn có sáu cuộn giấy màu đỏ, xếp thành hình hoa sen. Chỉ nhìn thoáng qua, tôi cũng rõ tất cả, vội vàng mở cửa, bê ngay cái bồn hoa cũ đó vào trong nhà. Sau khi tôi mở từng tờ giấy đỏ ra, trong tay tôi hiện ra một qủa trứng gà tròn vo, bóng loáng, nặng chịch. Chỉ có điều, trên vỏ trứng không để trơn mà là quả nào cũng được vẽ những bức tranh rất đẹp, tựa hồ chính những quả trứng ấy cũng được treo kết hoa đón Tết vậy. Trong những bức tranh đó, một bức là đôi chim khách đậu trên cành liễu xanh biếc, một bức là một bé trai hai tay xách hai con cá vàng. Còn tranh trên ba quả trứng kia là một đôi bướm xinh đẹp đang đậu trên khóm hoa mẫu đơn đỏ, một đôi uyên ương đang bơi lội trên hồ nước trong xanh, và một bé gái hai tay bê hai quả táo đỏ.

Tôi như bước lạc vào một khu rừng đầy tiếng chim hót líu lo và hoa thơm ngào ngạt, cảm thấy vô cùng sung sướng và mê say. Còn gì cao quý hơn những món quà như thế nữa? Tôi nâng niu sáu quả trứng họa đó đặt vào trong tủ sách và nghĩ đến việc hôm nào mang chúng ra ăn, chắc chắn sẽ phải đục cẩn thận hai cái lỗ nhỏ ở hai đầu quả trứng* cho chất trứng lỏng từ từ chảy hết ra, để lại những cái vỏ trứng rỗng nguyên vẹn, tôi sẽ xếp chúng thành bức tranh phong cảnh trứng sáu quả mãi mãi trong tủ sách của tôi.

Trì Tử Kiến


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: